Ruồi

Ruồi thường được xem là ổ vi khuẩn di động đồng thời là nỗi ám ảnh của nhiều gia đình. Thật là khó chịu khi trong ngôi nhà của chúng ta xuất hiện lũ ruồi phiền phức. Chúng cứ vo ve bên tai phá hoại giấc ngủ trưa của bạn. Không những thế chúng còn bám vào đồ ăn thức uống gây ô nhiễm thực phẩm. Cũng chính vì thế mà loài ruồi trở thành đối tượng nhà nhà đều ghét, người người muốn diệt trừ.

Mặc dù luôn bị ghét cay ghét đắng và tìm cách tiêu diệt, tuy nhiên loài vật này cũng có rất nhiều điểm thú vị mà không phải ai cũng biết. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn tìm hiểu những bí mật xung quanh loài ruồi để xem chúng có thật sự đáng ghét như bạn tưởng tượng không nhé.

Ruồi là loài côn trùng đáng ghét ai ai cũng muốn diệt trừ
Ruồi là loài côn trùng đáng ghét ai ai cũng muốn diệt trừ

Sơ lược về loài ruồi

Ruồi là côn trùng 2 cánh thuộc bộ Diptera, tiếng Hy Lạp di có nghĩa là “hai” và pteron là “cánh”. Bộ côn trùng hai cánh nói chung cũng như ruồi nói riêng rất đa dạng chủng loại. Các nhà khoa học ước tính ruồi có hơn 240.000 loài bao gồm muỗi, ruồi nhuế và các loài khác.

Ruồi có nhiều hình thức sinh sống và phát triển khác nhau có loài sống ký sinh, bao gồm nội ký sinh như loài bot fly hay ngoại ký sinh như muỗi, ruồi đen, ruồi cát hoặc rận; Ruồi ăn xác những sinh vật chết; Ruồi ăn phấn hoa hoặc mật.

Ở Việt Nam ruồi thường phát triển khi thời tiết ấm áp vào cuối xuân hay đầu thu. Các loài ruồi phổ biến ở nước ta có thể kể đến ruồi nhà, ruồi trâu, ruồi xám, ruồi giấm, ruồi lính đen, nhặng xanh, ruồi cống, ruồi trái cây,

Đặc điểm hình thái của ruồi

Về mặt hình thái, cơ thể ruồi cũng chia làm 3 phần là đầu, ngực và bụng như những loài côn trùng khác. Phần đầu của ruồi gồm cặp mắt, râu và khoang miệng. Đặc biệt, ruồi có một cặp mắt kép được cấu tạo vô cùng độc đáo bởi hàng ngàn thấu kính, giúp chúng có thể nhìn 360 độ xung quanh cơ thể.

Râu giống như cơ quan khứu giác giúp ruồi phát hiện mùi, râu của ruồi cái và ruồi đực có sự khác biệt.

Bên cạnh đó, một vài loài ruồi khác như “Ormia ochracea” lại có có cơ quan thính giác vô cùng phát triển. Chính sự phát triển của thị giác và thính giác làm chúng ta rất khó có thể đập được ruồi.

Ruồi có cấu tạo mắt rất đặc biệt
Ruồi có cấu tạo mắt rất đặc biệt

Ngoài ra, ruồi cũng không có răng, chúng có một cái lưỡi dài gọi là vòi con, hút thức ăn như ống hút.

Phần ngực của ruồi được phân là 5 đốt, phần ngực là bộ khung xương rắn chắc của ruồi. Đính trên đó là 2 đôi cánh màng, tuy nhiên đôi cánh sau đã thoái hóa thành đôi chùy (halter). Phía dưới ngực là 3 đôi chân, có vuốt sắc giúp ruồi dễ dàng bám trên mọi bề mặt.

Ngoài ra, cơ thể ruồi còn được phủ một lớp lông giúp ruồi cảm nhận mọi tác động của môi trường ngoại cảnh.

Sự sinh sản và vòng đời của ruồi

Ruồi là loài sinh sản hữu tính có tốc độ sinh sản nhanh chống mặt. Ruồi khi trưởng thành 2 ngày đã bắt đầu giao phối, sau đó 2 – 3 ngày chúng sẽ tìm nơi đẻ trứng. Một cặp ruồi có thể nhân lên hàng triệu con bằng cách lứa trước đẻ ra lứa sau chỉ sau vài tuần.

Ruồi là loài côn trùng biến thái hoàn toàn. Để phát triển thành một con ruồi trưởng thành chúng phải trải qua 4 giai đoạn từ Trứng, Ấu trùng, Nhộng đến Ruồi trưởng thành. Cụ thể vòng đời của ruồi như sau:

Vòng đời của ruồi gồm 4 giai đoạn: Trứng, Ấu trùng, Nhộng và Ruồi trưởng thành
Vòng đời của ruồi gồm 4 giai đoạn: Trứng, Ấu trùng, Nhộng và Ruồi trưởng thành

Giai đoạn trứng

Sau khi ruồi cái và ruồi đực giao phối với nhau. Sau 2 – 8 ngày ruồi cái sẽ tìm một nơi như nơi có phân, rác thải, xác chết động vật hoặc trong quả chín (ruồi giấm)…để đẻ trứng. Mỗi lần ruồi cái có thể đẻ từ 75 – 150 trứng và trong suốt cuộc đời một con ruồi có thể đẻ đến 2000 trứng.

Trứng ruồi thường có màu trắng đục và dài khoảng 1.2 mm. Sau khi đẻ từ 12 – 24 giờ sau trứng sẽ nở thành ấu trùng. Thời gian này có thể ngắn hoặc dài hơn tùy vào nhiệt độ moi trường và giống ruồi.

Giai đoạn Ấu trùng (Giòi)

Ấu trùng của ruồi còn có tên gọi dân gian khác là Giòi. Giòi có hình dáng thuôn dài như hạt gạo màu trắng đục và không có chân, chúng có kích thước 3 – 20 mm.

Ấu trùng sống hoàn toàn dựa vào môi trường đẻ trứng ban đầu. Chúng sẽ ăn các chất hữu cơ xung quanh, hấp thụ protein và dưỡng chất và tích lũy năng lượng cho sự chuyển hóa kế tiếp.

Gia đoạn ấu trùng thường phát triển trong khoảng 4 ngày và trải qua 2 lần lột xác trước khi chúng phát triển thành nhộng.

Giai đoạn Nhộng

Sau khi đã tích trữ đầy đủ dưỡng chất giòi sẽ di chuyển đến nơi khô ráo hơn và lột xác thành nhộng. Nhộng có hình dạng như một chiếc kén màu vàng nâu, có hình trụ, đầu tròn, vỏ cứng dần và có độ dài đạt khoảng 1,2mm.

Bên trong lớp vỏ bộc sẽ chứa ấu trùng đang tiến hóa dần thành ruồi. Lúc này cơ thể giòi sẽ xảy ra quá trình biến thái hoàn toàn từ ấu trùng có hình dáng giống giun chúng sẽ mọc chân và dần phát triển thành hình dáng của ruồi trưởng thành.

Ruồi trưởng thành

Sau khi đã phát triển hoàn thiện, ruồi non sẽ đục lớp vỏ nhộng và chui ra ngoài. Lúc này nó đã phát triển hoàn toàn và đạt kích thước từ 5 – 8 mm và toàn bộ cơ thể được phủ bởi lông.

Giai đoạn tiến hóa từ nhộng sang ruồi trưởng thành có chỉ kéo dài từ 2 – 6 ngày nếu trong nhiệt độ lý tưởng, nếu tiết xấu quá trình này có thể bị kéo dài ra.

Thời gian phát triển đầy đủ của ruồi đực và ruồi cái hoàn toàn khác nhau. Để phát triển hoàn thiện, ruồi đực chỉ cần 16 giờ, trong khi ruồi cái cần đến 24 giờ. Tuổi thọ của một con khoảng 28 ngày tính từ lúc còn là trứng, một số trường hợp ruồi có thể sống được cả năm.

Tập tính của ruồi

Ruồi nhặng thường hoạt động vào ban ngày, địa bàn hoạt động của chúng chỉ khoảng 1km trở lại. Chúng thường kiếm thức ăn ban ngày chỉ có số ít ruồi hoạt động vào ban đêm khi có đèn.

Khi trời tối, ruồi thường đậu nghỉ nơi khuất gió như sàn nhà, trần nhà, tường nhà, bờ rào, dây phơi, dây điện, thảm cỏ, bụi cây thấp…

Một ngày ruồi cần ăn 2 – 3 lần. Ruồi nếu thiếu nước uống chỉ sống được 48 giờ. Tập tính ăn uống của ruồi khá quái dị, chúng vừa ăn vừa nôn. Thức ăn vừa nôn ra sẽ được acid trong nước bọt của chúng hóa lỏng trước khi được chúng hút trở lại.

Ruồi nổi tiếng là phàm ăn và ăn bẩn chúng ăn tất cả các loại thức ăn như thực phẩm đến chất thải của con người động vật như đờm, dãi, chất nôn, phân, máu, tổ chức hoại tử… đây là những nơi vô cùng dơ bẩn và chứa nhiều mầm bệnh truyền nhiễm.

Những mầm bệnh bám trên cơ thể ruồi và được chúng vận chuyển từ chỗ này sang chỗ khác. Vì vậy, ruồi nhặng là vật trung gian truyền một số bệnh nguy hiểm cho người như tiêu chảy, lỵ, thương hàn và các bệnh giun sán, nấm…

Ruồi ăn và nôn lên thức ăn gây ô nhiễm nguồn thực phẩm
Ruồi ăn và nôn lên thức ăn gây ô nhiễm nguồn thực phẩm

Những điều thú vị xung quanh loài ruồi

Hàng trăm vi khuẩn dưới chân một con ruồi

Bởi đặc tính ăn uống dơ bẩn và di chuyển từ nơi này sang nơi khác mà ruồi mang trên mình vô số vi khuẩn và mầm bệnh nguy hiểm.

Các nhà khoa học chứng minh rằng, ruồi có thể truyền hơn 65 loại bệnh, điển hình là sốt thương hàn, kiết lỵ, dịch tả, bệnh lao…Chính vì thế, diệt ruồi là việc hết sức cần thiết.

Ruồi chuyển động cánh cực nhanh nhưng lại bay rất chậm

Khi một con ruồi đến gần bạn thường nghe tiếng vo ve rất khó chịu. Điều đó là do sư chuyển động nhanh của đôi cánh của một gây ra. Ruồi có thể vỗ cánh 1.000 lần/phút. Tuy nhiên, ruồi nhà chỉ bay với tốc độ khoảng 4.5km/h và chỉ quanh quẩn trong bán kính từ 2 – 10 mét.

Ruồi nếm thức ăn bằng ngón chân

Nếu con chúng ra nếm thức ăn bằng lưỡi thì với ruồi chúng lại làm việc đó bằng những ngón chân. Các loại côn trùng như ruồi và bướm thường có cơ quan vị giác ở trên ngón chân được gọi là chemosensilla, nằm ở cuối xương ống chân và xương cổ chân.

Chính vì thế, để biết được mùi vị của món ăn, chúng chỉ việc giẫm chân vào và thưởng thức. Chính điều này làm thức ăn của chúng ta dễ dàng nhiễm bẩn vì ruồi.

Ruồi đi vệ sinh rất nhiều lần trong ngày

Vì ăn thức ăn lỏng dễ tiêu hóa nên ruồi đi vệ sinh rất nhiều lần trong ngày và hầu như chúng đều ị mỗi khi bay. Điều đáng sợ hơn là chúng có thể ị ngay trên thức ăn mà chúng ăn dở, gây ô nhiễm thức ăn trầm trọng và gây hại cho sức khỏe con người.

Ruồi mang lại lợi ích kinh tế

Loài ruồi thường xuyên được nhắc đến vì mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người nông dân chính là Ruồi lính đen.

Không giống như những loại ruồi gây hại khác, ở giai đoạn ấu trùng ruồi lính đen giúp phân hủy phế phẩm nông nghiệp vô cùng hiệu quả. Đồng thời ấu trùng và nhộng ruồi cũng là nguồn thức ăn vô cùng bổ dưỡng cho cá và gia cầm giúp tăng năng suất giảm chi phí chăn nuôi mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể cho người nông dân.

Ruồi lính đen là động vật mang lại kinh tế cho người nông dân
Ruồi lính đen là động vật mang lại kinh tế cho người nông dân

Ruồi có thể giúp thụ phấn cho cây

Việc di chuyển khắp nơi tìm thức ăn hay hút mật cũng khiến ruồi mang trên người nhiều phấn hoa và vô tình thụ phấn cho cây như các loài ong bướm khác.

Ruồi giúp ích cho khoa học

Nhà di truyền học Steve Jones từng nhận định “ruồi giấm sinh ra để dành cho khoa học”. Ruồi giấm có bộ gien tương đối giống với con người (đến 60 %) đồng thời khoảng 75% các bệnh về gene ở người cũng có thể tìm thấy ở ruồi giấm. Đặc biệt, đã có đến 6 giải Nobel có liên quan đến loài côn trùng hữu ích này.

Trên đây là những thông tin hữu ích giúp bạn hiểu rõ hơn về ruồi. Bên cạnh những loài ruồi gây hại vẫn có những loài mang lại lợi ích không nhỏ cho con người. Chúng ta cần tiêu diệt ruồi có chọn lọc những loài ruồi có hại đồng thời thực hiện những biện pháp phòng chống ruồi nhặn vào nhà gây bệnh thay vì tiệt diệt để bảo vệ sức khỏe gia đình, tránh gây mất cân bằng hệ sinh thái.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *